Triệu chứng ung thư âm hộ
Triệu chứng ung thư âm hộ sớm hay gặp là ngứa âm hộ một thời gian dài, có liên quan đến các tổn
thương tiền ung thư. Về sau bệnh nhân có thể có chảy máu, chảy dịch khi
có loét bề mặt, muộn hơn có đái khó và đau.
Bệnh nhân thường tự
thấy khối u, khi để muộn có thể sùi thành khối lớn. Hiện còn nhiều bệnh
nhân đến khám ở giai đoạn muộn do ngại đi khám hoặc đi khám nhưng thầy thuốc không có kinh nghiệm trong việc phát hiện các tổn thương sớm.
Khám thực thể
Khám thấy
tổn thương nổi gồ, có thể đỏ tươi, loét, hoặc có những mảng trắng hoặc
có những nụ sùi. Hầu hết UTAH biểu hiện đơn ổ trên bệnh nhân đã mãn kinh
thường liên quan đến các tổn thương mãn tính ở âm hộ. Có khoảng 5% biểu
hiện đa ổ thường ở những phụ nữ trẻ.
Vị trí thường gặp ở môi lớn (50%), sau đó là môi nhỏ (15-20%) và sau cùng là âm vật.
Cần khám phụ khoa toàn diện, khám hạch bẹn, các cơ quan xung quanh đánh giá mức độ xâm lấn của bệnh.
Để chẩn đoán sớm, trước một tổn thương âm hộ, thầy thuốc cần bấm sinh thiết.
Sử
dụng máy soi cổ tử cung sau khi chấm acid acetic 3-6% và đợi 5 phút
giúp quan sát tốt hơn để chọn vị trí sinh thiết, đặc biệt ở những phụ nữ
có các tổn thương rộng.
Phòng ngừa ung thư âm hộ
- Tiêm vắc-xin
phòng HPV: Trẻ gái và phụ nữ trẻ có thể xem xét việc tiêm vắc-xin HPV để
bảo vệ chống lại các chủng vi-rút được cho là gây ra các trường hợp ung
thư âm hộ.
- Giảm nguy cơ các bệnh lây truyền qua đường tình dục:
+ Hạn chế số lượng bạn tình vì người càng có nhiều bạn tình càng có nguy cơ nhiễm bệnh liên quan đến tình dục.
+ Sử dụng bao cao su đúng cách mỗi lần quan hệ tình dục.
- Khám phụ khoa: định kỳ 6 tháng 1 lần tại các cơ sở y tế chuyên khoa.
-
Khi có những bất thường như thay đổi trong kích cỡ, màu sắc, có những
vết chàm hay vết bớt ở vùng âm hộ; ngứa rát và đau xung quanh âm hộ;
xuất hiện u cục hay mụn rộp nổi lên trên da; chảy máu bất thường; khí hư
nhiều; đau rát khi tiểu tiện hay xuất hiện khối u ở vùng âm hộ thì nhất
thiết cần được kiểm tra và điều trị triệt để bởi thầy thuốc chuyên khoa.
Xem thêm ung thư âm hộ: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-am-ho.aspx
Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015
Dấu hiệu và triệu chứng nổi bật của ung thư âm hộ
Ung thư âm
hộ là một loại ung thư xảy ra trên diện tích bề mặt ngoài của cơ quan
sinh dục nữ. Âm hộ là vùng da bao quanh niệu đạo và âm đạo, bao gồm âm
vật và môi nhỏ.
Các hình
thức ung thư âm hộ thường như một khối u hoặc đau ở âm hộ là nguyên nhân
gây ngứa và đau đớn. Mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, ung thư âm
hộ thường được chẩn đoán ở phụ nữ lớn tuổi.
Điều trị ung thư âm hộ thường liên quan đến phẫu thuật để loại bỏ ung thư và lề
mô khỏe mạnh. Đôi khi phẫu thuật ung thư âm hộ yêu cầu loại bỏ toàn bộ
âm hộ. Bệnh ung thư âm hộ được chẩn đoán trước đó, phẫu thuật ít có khả
năng mở rộng là cần thiết để điều trị.
Các triệu chứng
Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư âm hộ có thể bao gồm:
Ngứa mà không hết.
Đau.
Chảy máu không phải do kinh nguyệt.
Da thay đổi, chẳng hạn như thay đổi màu sắc hoặc sự dày lên.
U, bướu giống như mụn cơm hay đau loét.
Thực hiện một cuộc hẹn với bác sĩ phụ khoa nếu gặp bất kỳ dấu hiệu âm hộ hoặc triệu chứng lo lắng, chẳng hạn như:
Chảy máu bất thường.
Nóng rát.
Ngứa.
Đau.
Các loại ung thư âm hộ
Các loại
tế bào trong đó bắt đầu ung thư âm hộ giúp bác sĩ đưa ra kế hoạch điều
trị hiệu quả nhất. Các loại phổ biến nhất của ung thư âm hộ bao gồm:
Ung thư tế bào vảy âm hộ. Ung thư này bắt đầu trong tế bào mỏng, dòng bề mặt âm hộ. Hầu hết bệnh ung thư âm hộ là ung thư tế bào vảy.
U ác tính âm hộ. Ung thư này bắt đầu trong sản xuất tế bào sắc tố được tìm thấy trong da của âm hộ.
Tìm hiểu về ung thư âm hộ tại : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-am-ho.aspx
Nguyên nhân, triệu chứng của ung thư âm hộ
Ung thư âm hộ là ung
thư bộ phận sinh dục ngoài hệ thống sinh sản của phụ nữ. Bệnh không phổ biến,
chiếm khoảng 3-4% trong số những bệnh ung thư phụ khoa và đứng thứ tư trong số
những ung thư đường sinh dục, sau ung thư nội mạc tử cung, cổ tử cung, buồng
trứng. Lứa tuổi trung bình mắc bệnh là khoảng 63 tuổi và 75% bệnh nhân trên 50
tuổi, 15% gặp ở phụ nữ dưới 40 tuổi.
Triệu
chứng của bệnh
Các triệu chứng của ung thư âm hộ một cách mơ hồ hoặc có biểu hiện kích thích như ngứa. Đau khi có tổn thương gần âm vật hoặc niệu đạo, gây nên khó chịu khi tiểu tiện. Nhiễm trùng bội nhiễm của khối u ác tính cũng gây đau và tiết dịch. Khám lâm sàng có thể thấy tổn thương khối u, loét, chảy máu. Khoảng 5% có hạch ở bẹn hoặc bị áp xe hóa.
Các triệu chứng của ung thư âm hộ một cách mơ hồ hoặc có biểu hiện kích thích như ngứa. Đau khi có tổn thương gần âm vật hoặc niệu đạo, gây nên khó chịu khi tiểu tiện. Nhiễm trùng bội nhiễm của khối u ác tính cũng gây đau và tiết dịch. Khám lâm sàng có thể thấy tổn thương khối u, loét, chảy máu. Khoảng 5% có hạch ở bẹn hoặc bị áp xe hóa.
Nguyên
nhân gây bệnh
Hiện tại vẫn chưa xác định được nguyên nhân nhân chính xác gây bệnh, nhưng những yếu tố có liên quan có thể đưa ra như:
Những khối u biểu mô bên trong biến chuyển thành yếu tố tiền ung thư trong da âm hộ. Ở vùng bị khối u biểu mô có thể sưng lên với vùng da dày và đỏ, với những vết đốm có màu trắng nhợt hơn hoặc sẫm hơn.
Hiện tại vẫn chưa xác định được nguyên nhân nhân chính xác gây bệnh, nhưng những yếu tố có liên quan có thể đưa ra như:
Những khối u biểu mô bên trong biến chuyển thành yếu tố tiền ung thư trong da âm hộ. Ở vùng bị khối u biểu mô có thể sưng lên với vùng da dày và đỏ, với những vết đốm có màu trắng nhợt hơn hoặc sẫm hơn.
Virus gây u nhú HPV được
nghĩ như một nguyên nhân gây bệnh, khoảng từ 3-5/10 trường hợp ung thư âm hộ có
nguyên nhân từ virus HPV.
Do một số chất khử mùi, xà phòng thơm, chất xịt vệ sinh có chứa những chất hóa học gây ung thư.
Sử dụng nước để vệ sinh không sạch tạo nên tác nhân kích thích gây ngứa gãi. Những người âm hộ dễ bị ẩm ướt như mắc bệnh són đái, mặc quần áo lót có chất nhuộm hay bằng vải tổng hợp gây kích thích, mặc quần áo lót bó sát gây nên hạn chế thông thoáng khí cũng chính là nguyên nhân gây bệnh.
Ngoài ra, trong những tài liệu y văn cổ, người ta nhận thấy có khoảng 30-50% bệnh nhân ung thư âm hộ có mắc bệnh giang mai, bệnh u hạt hay hoa liễu cũng hay gặp.
Do một số chất khử mùi, xà phòng thơm, chất xịt vệ sinh có chứa những chất hóa học gây ung thư.
Sử dụng nước để vệ sinh không sạch tạo nên tác nhân kích thích gây ngứa gãi. Những người âm hộ dễ bị ẩm ướt như mắc bệnh són đái, mặc quần áo lót có chất nhuộm hay bằng vải tổng hợp gây kích thích, mặc quần áo lót bó sát gây nên hạn chế thông thoáng khí cũng chính là nguyên nhân gây bệnh.
Ngoài ra, trong những tài liệu y văn cổ, người ta nhận thấy có khoảng 30-50% bệnh nhân ung thư âm hộ có mắc bệnh giang mai, bệnh u hạt hay hoa liễu cũng hay gặp.
Phòng ngừa bệnh
Các bác sĩ Bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt cho biết, để ngăn chặn hay phòng ngừa ung thư nói chung và ung thư bộ âm hộ nói riêng, tốt nhất vẫn là cảnh giác với ung thư bằng cách đi khám phụ khoa định kỳ, 6 tháng một lần tại các cơ sở y tế chuyên khoa hay da liễu. Hoặc khi có những bất thường như thay đổi trong kích cỡ, màu sắc, hay là bề mặt của vết chàm hay vết bớt ở vùng âm hộ ngứa rát và đau xung quanh âm hộ; xuất hiện u cục hay mụn rộp nổi lên rất rõ trên da, chảy máu bất thường hay khí hư nhiều, đau rát khi tiểu tiện, vết thương, chỗ sưng hay khối u ở vùng âm hộ thì nhất thiết cần được điều trị triệt để bởi thầy thuốc chuyên khoa.
Các bác sĩ Bệnh viện Ung Bướu Hưng Việt cho biết, để ngăn chặn hay phòng ngừa ung thư nói chung và ung thư bộ âm hộ nói riêng, tốt nhất vẫn là cảnh giác với ung thư bằng cách đi khám phụ khoa định kỳ, 6 tháng một lần tại các cơ sở y tế chuyên khoa hay da liễu. Hoặc khi có những bất thường như thay đổi trong kích cỡ, màu sắc, hay là bề mặt của vết chàm hay vết bớt ở vùng âm hộ ngứa rát và đau xung quanh âm hộ; xuất hiện u cục hay mụn rộp nổi lên rất rõ trên da, chảy máu bất thường hay khí hư nhiều, đau rát khi tiểu tiện, vết thương, chỗ sưng hay khối u ở vùng âm hộ thì nhất thiết cần được điều trị triệt để bởi thầy thuốc chuyên khoa.
Những triệu chứng nhận biết ung thư âm hộ.
Ung thư âm hộ là ung thư mà bắt đầu ở trong âm môn, sau đó ảnh hưởng đến môi âm hộ, các nếp gấp da bên ngoài âm đạo.
Trong một số trường hợp, ung thư âm hộ có thể bắt đầu vào âm vật hoặc trong các tuyến ở hai bên âm đạo. Nếu phát hiện sớm, điều trị ung thư âm hộ có khả năng thành công cao.
Chính vì vậy, nhận biết được các triệu chứng của bệnh là việc vô cùng quan trọng. Hãy cùng đọc qua những thông tin dưới đây để phát hiện và có hướng thăm khám, điều trị sớm nếu mắc bệnh nhé!
1. Những đối tượng có nguy cơ bị ung thư âm hộ cao
- Nhiễm virus HPV gây u nhú ở người: Đây được coi là nguyên nhân của nhiều bệnh ung thư, trong đó có ung thư âm đạo và ung thư âm hộ. Nếu bạn đã từng nhiễm virus HPV hãy hình thành thói quen làm xét nghiệm thường xuyên.
Đồng thời, chữa trị theo đúng hướng dẫn và liệu trình của bác sĩ, có thể chích ngừa vacxin giúp ngăn ngừa các bệnh ung thư liên quan đến virus HPV.
- Nếu bạn hút thuốc, bạn cũng có nguy cơ cao mắc ung thư âm hộ.
- Bệnh nhân nhiễm HIV có hệ miễn dịch suy yếu cũng có thể bị ung thư âm hộ tấn công.
- Nếu bạn đã bị ung thư cổ tử cung hoặc tiền ung thư cổ tử cung, hãy cảnh giác hơn với ung thư âm hộ.
- Nếu bạn dùng thuốc có steroid nhằm giảm và biến chất béo trong cơ thể thành cơ bắp, tăng độ dẻo dai khi tập luyện cũng có thể tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư âm hộ. Steroid có rất nhiều tác dụng phụ nguy hại cho sức khỏe của bạn. Hãy cảnh giác và tham khảo ý kiến bác sỹ trước khi sử dụng loại thuốc này.
- Phụ nữ có kinh muộn (15-18 tuổi) và mãn kinh sớm (40 tuổi) cũng thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc ung thư âm đạo.
2. Các triệu chứng ung thư âm hộ
- Ngứa dai dẳng vùng âm hộ (chủ yếu và môi ngoài và môi trong).
- Thay đổi về màu sắc: âm hộ bỗng nhiên trắng hoặc đỏ hơn bình thường.
- Vùng da của âm hộ thay đổi bất thường: phát ban, nổi mẩn, nốt ruồi, lốm đốm màu hoặc mụn cóc xuất hiện.
- Âm hộ bị vết loét đau, ngứa chữa mãi không khỏi.
- Đau rát khi tiểu tiện và quan hệ tình dục. Thậm chí lúc bình thường cũng có cảm giác đau.
- Sưng hạch bạch huyết ở vùng háng.
- Xuất hiện mùi không bình thường ở âm đạo.
3. Bạn vẫn có thể bị bệnh khi không ở nhóm nguy cơ cao
Ngay cả khi bạn không phải là đối tượng thuộc nhóm nguy cơ cao, bạn vẫn cần cảnh giác với bệnh ung thư âm hộ. Việc mà chị em cần làm là chú ý đến những sự thay đổi bất thường trên cơ thể, đặc biệt là bộ phận sinh dục của mình.
Khi bộ phận sinh dục xuất hiện những dấu hiệu lạ, đừng ngại ngần đến gặp bác sỹ để được thăm khám và làm các xét nghiệm cơ bản để phát hiện bệnh.
Những xét nghiệm cần thiết khi nghi ngờ ung thư âm hộ:
- Sinh thiết tế bào.
- Chụp CT hay MRI xương chậu để tìm lây lan bệnh ung thư.
- Xét nghiệm khung xương chậu để tìm thay đổi ở da.
Sau khi làm các xét nghiệm, bác sỹ sẽ cho biết bạn có mắc bệnh hay không. Nếu mắc bệnh và được phát hiện ở giai đoạn sớm, khả năng chữa bệnh thành công là khá cao. Chị em không nên hoang mang, lo lắng, hãy làm đúng theo phác đồ điều trị của bác sỹ là được.
Xem thêm về Ung thư dương vật tại Bệnh viện ung bướu Hưng Việt.
Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015
Triệu Chứng Của Ung Thư Dương Vật
Ung thư dương vật có các biểu hiện lâm sàng rất khác nhau, từ tổn thương có vẻ lành tính tới ung thư biểu mô xâm lấn kèm với rụng dương vật. Có sự khác biệt lớn như vậy một phần là do người ta thường đến khám muộn. Khoảng thời gian từ lúc bệnh nhân bắt đầu nhận thấy tổn thương cho tới khi người bệnh đến khám bác sĩ trung bình là 10 tháng và đến một nửa số bệnh nhân này có thể có tổn thương trên một năm trước khi đến khám bác sĩ.
Dấu hiệu và Triệu chứng của tổn thương nguyên phát
Trong một báo cáo tổng quan của trên 4000 bệnh nhân ung thư dương vật, 47% có u, cục hoặc nhân ở dương vật; 35% bị đau hoặc loét và 17% bị tổn thương viêm. Khi đến khám, 43% tổn thương có kích thước < 2cm và 57% có tổn thương với kích thước lớn hơn. Trong nghiên cứu thứ hai, 48% các trường hợp có tổn thương quy đầu, thứ tự tiếp đó là tổn thương bao quy đầu (21%), tổn thương cả quy đầu và bao quy đầu (9%) tổn thương vành quy đầu (6%) và tổn thương thân dương vật (< 2%); trong 14% các trường hợp, ung thư đã xâm lấn vào trong thân dương vật từ các vị trí ở xa hơn.
Ung thư dương vật có cả dạng nhú và dạng phẳng. u nhú thường phát triển từ một tổn thương dạng hạt cơm lồi ở quy đầu và da quy đầu, tổn thương này về sau có thể rộng ra và kết hợp lại tạo thành một khối u dạng nấm kèm hoại tử và huỷ hoại dương vật. Ngược lại, u phẳng thường xâm lấn vào các cấu trúc sâu hơn của dương vật, đồng thời lan rộng ra hai bên lên bề mặt dương vật làm cho bề mặt thay đổi chút ít. Các tổn thương này thường là vết loét hình tròn, nông và nhỏ trên nền hơi lồi. Cả hai loại tổn thương đều có thể dẫn tới tình trạng nhiễm khuẩn thứ phát và thường rỉ mủ có mùi hôi.
Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân có thể thấy ngứa và nóng rát ở dưới bao quy đầu và chỉ hơi bị đau vì bệnh ít khi gây hủy hoại lan rộng vào mô. Các triệu chứng ung thư dương vật thường gặp như giảm cân và mệt mỏi có thể đi kèm sự tiến triển bệnh. Chảy máu, rò niệu đạo và tác niệu đạo là các biến chứng muộn báo hiệu bệnh đã lan rộng; đây là các dấu hiệu hiếm khi xuất hiện. Trong các trường hợp nghiêm trọng, khối u có thể chiếm toàn bộ dương vật hoặc dương vật có thể rụng.
Các yếu tố khách quan gây ung thư dương vật
Ung thư dương vật – cái tên chỉ mới nhắc đến thôi đã gây nên biết bao nỗi ám ảnh và sợ hãi đối với các đấng mày râu. Bên cạnh những yếu tố như độ tuổi, hút thuốc lá, cắt bao quy đầu lúc mới sinh, hẹp bao quy đầu và nhiễm virút papilloma người (HPV), có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển ung thư biểu mô tế bào vẩy dương vật thì các yếu tố khác như quan hệ tình dục bừa bãi, dương vật bị tổn thương, nhiễm HIV .. cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển bệnh ung thư dương vật.
Liệu pháp PUVA
Tiền sử sử dụng liệu pháp quang hóa tia cực tím và psoralen (PUVA) có liên quan tới sự phát triển ung thư dương vật về sau.
Tiền sử sử dụng liệu pháp quang hóa tia cực tím và psoralen (PUVA) có liên quan tới sự phát triển ung thư dương vật về sau.
Quan hệ tình dục bừa bãi
Quan hệ tình dục bừa bãi có thể thúc đẩy quá trình phát triển ung thư dương vật. Trong một nghiên cứu, nam giới có hơn 30 bạn tình trong cả cuộc đời có nguy cơ phát triển ung thư dương vật cao hơn những người có một đến bốn hoặc năm đến 29 bạn tình (tương ứng gấp 3,4 và 2,6 lần). Tuy nhiên, tần suất nhiễm HPV cao hơn ở những người có quan hệ tình dục bừa bãi có thể giải thích cho mối liên hệ này.
Quan hệ tình dục bừa bãi có thể thúc đẩy quá trình phát triển ung thư dương vật. Trong một nghiên cứu, nam giới có hơn 30 bạn tình trong cả cuộc đời có nguy cơ phát triển ung thư dương vật cao hơn những người có một đến bốn hoặc năm đến 29 bạn tình (tương ứng gấp 3,4 và 2,6 lần). Tuy nhiên, tần suất nhiễm HPV cao hơn ở những người có quan hệ tình dục bừa bãi có thể giải thích cho mối liên hệ này.
Tổn thương dương vật
Trong một thông báo, nguy cơ phát triển ung thư dương vật ở những người bị các vết rách nhỏ hoặc xây xước dương vật tăng 3,9 lần so với người không có các tổn thương này.
Trong một thông báo, nguy cơ phát triển ung thư dương vật ở những người bị các vết rách nhỏ hoặc xây xước dương vật tăng 3,9 lần so với người không có các tổn thương này.
Chủng tộc và tiền sử gia đình
Mối liên hệ giữa chủng tộc và ung thư dương vật hiện còn đang bị nghi ngờ. Theo một nghiên cứu, người Mỹ gốc Phi có nguy cơ phát triển ung thư dương vật cao gấp hai lần người da trắng, nhưng các nghiên cứu khác lại không thấy sự khác biệt này. Một hội chứng gia đình hiếm gặp cũng đã được mô tả.
Mối liên hệ giữa chủng tộc và ung thư dương vật hiện còn đang bị nghi ngờ. Theo một nghiên cứu, người Mỹ gốc Phi có nguy cơ phát triển ung thư dương vật cao gấp hai lần người da trắng, nhưng các nghiên cứu khác lại không thấy sự khác biệt này. Một hội chứng gia đình hiếm gặp cũng đã được mô tả.
Nhiễm HIV
Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV và ung thư dương vật chưa rõ ràng. Chỉ có một số ít trường hợp bị ung thư dương vật trong số những người nhiễm HIV được công bố, thường là ở các trường hợp có nhiễm HPV. Tần suất mắc ung thư dương vật thấp khi bị nhiễm HIV khiến cho người ta ngạc nhiên vì các loại ung thư hậu môn-sinh dục liên quan tới HPV khác tăng lên khi bị nhiễm HIV.
Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV và ung thư dương vật chưa rõ ràng. Chỉ có một số ít trường hợp bị ung thư dương vật trong số những người nhiễm HIV được công bố, thường là ở các trường hợp có nhiễm HPV. Tần suất mắc ung thư dương vật thấp khi bị nhiễm HIV khiến cho người ta ngạc nhiên vì các loại ung thư hậu môn-sinh dục liên quan tới HPV khác tăng lên khi bị nhiễm HIV.
Các tổn thương dương vật tiền ung thư
Một số tổn thương dương vật hiện nay được coi là tiền ung thư do có khả năng thúc đẩy hoặc phát triển trực tiếp thành ung thư biểu mô tế bào vẩy xâm lấn. Các tổn thương này bao gồm viêm quy đầu khô tắc (BXO), bạch sản, sừng hóa da quy đầu, sùi mào gà, condilom Buschke-Lowenstein khổng lồ, viêm quy đầu giả epithelioma dày sừng (PKMB) và ung thư biểu mô nông tại chỗ (CIS) gồm các thể bệnh Bowen (BD), hồng sản Querat (EQ) và sẩn dạng Bowen (PB).
Một số tổn thương dương vật hiện nay được coi là tiền ung thư do có khả năng thúc đẩy hoặc phát triển trực tiếp thành ung thư biểu mô tế bào vẩy xâm lấn. Các tổn thương này bao gồm viêm quy đầu khô tắc (BXO), bạch sản, sừng hóa da quy đầu, sùi mào gà, condilom Buschke-Lowenstein khổng lồ, viêm quy đầu giả epithelioma dày sừng (PKMB) và ung thư biểu mô nông tại chỗ (CIS) gồm các thể bệnh Bowen (BD), hồng sản Querat (EQ) và sẩn dạng Bowen (PB).
Không xác định được phạm vi của tổn thương có trước khi hình thành ung thư dương vật xâm lấn; các bằng chứng hiện có gợi ý đa số các trường hợp ung thư biểu mô tế bào vẩy dương vật phát triển tự nhiên. Ví dụ, trong một nghiên cứu, chỉ có 39 người (8%) trong số 511 bệnh nhân ung thư dương vật có tổn thương dương vật trước đó hoặc có tổn thương đồng thời. Tuy nhiên, trong nghiên cứu thứ hai, 19 (42%) trong số 45 bệnh nhân công bố có tổn thương từ trước. Do đó, vai trò chính xác của tổn thương dương vật có từ trước đối với quá trình hình thành ung thư còn đang được tiếp tục nghiên cứu.
Viêm bao quy đầu khô tắc
BXO là một căn bệnh ở vùng sinh dục tương tự lichen thể xơ hóa và teo đét, được đặc trưng bởi các mảng trắng ở quy đầu hoặc ở bao quy đầu. Các mảng trắng này cuối cùng to lên và kết hợp thành khối u xơ cứng gây dính, hẹp bao quy đầu và chít hẹp miệng sáo. Mặc dù thường được coi là lành tính nhưng BXO có liên quan tới ung thư biểu mô tế bào vẩy ở khoảng hơn chục trường hợp, không có ai trong số này được cắt bao quy đầu lúc mới sinh. Trong một nghiên cứu có 86 bệnh nhân bị lichen xơ cứng vùng sinh dục, các biểu hiện mô học tiền ung thư hoặc ung thư phát triển ở 5 bệnh nhân (6%), 4 trong 5 bệnh nhân này có nhiễm HPV.
Khoảng thời gian trung bình từ lúc lichen xơ cứng khởi phát cho tới khi phát triển ung thư dương vật là 17 năm (dao động từ 10 đến 23 năm).
BXO là một căn bệnh ở vùng sinh dục tương tự lichen thể xơ hóa và teo đét, được đặc trưng bởi các mảng trắng ở quy đầu hoặc ở bao quy đầu. Các mảng trắng này cuối cùng to lên và kết hợp thành khối u xơ cứng gây dính, hẹp bao quy đầu và chít hẹp miệng sáo. Mặc dù thường được coi là lành tính nhưng BXO có liên quan tới ung thư biểu mô tế bào vẩy ở khoảng hơn chục trường hợp, không có ai trong số này được cắt bao quy đầu lúc mới sinh. Trong một nghiên cứu có 86 bệnh nhân bị lichen xơ cứng vùng sinh dục, các biểu hiện mô học tiền ung thư hoặc ung thư phát triển ở 5 bệnh nhân (6%), 4 trong 5 bệnh nhân này có nhiễm HPV.
Khoảng thời gian trung bình từ lúc lichen xơ cứng khởi phát cho tới khi phát triển ung thư dương vật là 17 năm (dao động từ 10 đến 23 năm).
Bạch sản
Tình trạng kích thích hoặc viêm mạn tính được coi là đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của bạch sản, đó là một tình trạng bệnh hiếm gặp thường có một hoặc nhiều mảng trắng dạng vẩy ở miệng sáo. Mặc dù mối liên quan chính xác với bệnh ung thư dương vật chưa được xác định rõ nhưng bạch sản thường được phát hiện ở gần hoặc sát vùng có ung thư biểu mô tế bào vẩy. Bản chất tiền ung thư của bạch sản được gợi ý do có biểu hiện loạn sản ở 10 - 20% các trường hợp nếu để bệnh tiến triển tới mức độ loét, xước hoặc nứt.
Tình trạng kích thích hoặc viêm mạn tính được coi là đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của bạch sản, đó là một tình trạng bệnh hiếm gặp thường có một hoặc nhiều mảng trắng dạng vẩy ở miệng sáo. Mặc dù mối liên quan chính xác với bệnh ung thư dương vật chưa được xác định rõ nhưng bạch sản thường được phát hiện ở gần hoặc sát vùng có ung thư biểu mô tế bào vẩy. Bản chất tiền ung thư của bạch sản được gợi ý do có biểu hiện loạn sản ở 10 - 20% các trường hợp nếu để bệnh tiến triển tới mức độ loét, xước hoặc nứt.
Sừng hóa da quy đầu
Sừng hóa da quy đầu là một tổn thương dày sừng lồi được tạo thành do sự quá phát và sừng hóa biểu mô. Sừng hóa da thường được tạo thành trên bề mặt của tổn thương có từ trước như mụn ruồi, hạt cơm hoặc vết trầy xước và chúng được coi là một đáp ứng với tình trạng viêm bao quy đầu mạn tính. Sự thoái hóa ác tính đã được ghi nhận ở một số trường hợp bệnh tái phát và hiếm khi sừng hóa phát triển hoặc tạo thành từ ung thư xâm lấn.
Sừng hóa da quy đầu là một tổn thương dày sừng lồi được tạo thành do sự quá phát và sừng hóa biểu mô. Sừng hóa da thường được tạo thành trên bề mặt của tổn thương có từ trước như mụn ruồi, hạt cơm hoặc vết trầy xước và chúng được coi là một đáp ứng với tình trạng viêm bao quy đầu mạn tính. Sự thoái hóa ác tính đã được ghi nhận ở một số trường hợp bệnh tái phát và hiếm khi sừng hóa phát triển hoặc tạo thành từ ung thư xâm lấn.
Sùi mào gà
Sùi mào gà hay còn gọi là mụn cơm sinh dục là các u nhú, mềm đi kèm tình trạng nhiễm HPV. Mặc dù u sùi thường có diễn biến lành tính nhưng cũng có thể chuyển dạng ác tính, đặc biệt khi đi kèm với một số dưới tuýp HPV nhất định (16, 18, 31, 33, 35 và 39). Tần suất mắc ung thư dương vật tăng ở những người có sùi mào gà được minh họa trong một nghiên cứu có đối chứng tiến hành trong cộng đồng trên 110 bệnh nhân ung thư dương vật và 355 người làm chứng, trong đó nguy cơ ung thư dương vật ở người có tiền sử u sùi mào gà cao hơn 5,9 lần so với người không có u sùi.
Sùi mào gà hay còn gọi là mụn cơm sinh dục là các u nhú, mềm đi kèm tình trạng nhiễm HPV. Mặc dù u sùi thường có diễn biến lành tính nhưng cũng có thể chuyển dạng ác tính, đặc biệt khi đi kèm với một số dưới tuýp HPV nhất định (16, 18, 31, 33, 35 và 39). Tần suất mắc ung thư dương vật tăng ở những người có sùi mào gà được minh họa trong một nghiên cứu có đối chứng tiến hành trong cộng đồng trên 110 bệnh nhân ung thư dương vật và 355 người làm chứng, trong đó nguy cơ ung thư dương vật ở người có tiền sử u sùi mào gà cao hơn 5,9 lần so với người không có u sùi.
Condyloma Buschke-Lowenstein khổng lồ (ung thư biếu mô dạng hạt cơm)
Đây thường là u lồi trông giống súp lơ ở quy đầu và bao quy đầu của dương vật và là một dạng ung thư biểu mô tế bào vẩy hậu môn-sinh dục biệt hóa cao, chiếm khoảng 5 - 24% các trường hợp ung thư dương vật tuỳ thuộc vào nhóm đối tượng được nghiên cứu. HPV được cho là có liên quan tới sinh bệnh học của ung thư biểu mô dạng hạt cơm; HPV dưới tuýp 6 và 11 thường được phân lập và dưới tuýp 16 và 18 có liên quan tới sự phát triển xâm lấn.
Đây thường là u lồi trông giống súp lơ ở quy đầu và bao quy đầu của dương vật và là một dạng ung thư biểu mô tế bào vẩy hậu môn-sinh dục biệt hóa cao, chiếm khoảng 5 - 24% các trường hợp ung thư dương vật tuỳ thuộc vào nhóm đối tượng được nghiên cứu. HPV được cho là có liên quan tới sinh bệnh học của ung thư biểu mô dạng hạt cơm; HPV dưới tuýp 6 và 11 thường được phân lập và dưới tuýp 16 và 18 có liên quan tới sự phát triển xâm lấn.
Ung thư biểu mô dạng hạt cơm có tiên lượng tốt hơn các ung thư biểu mô tế bào vẩy dương vật khác. Trong một nghiên cứu so sánh 60 trường hợp ung thư biểu mô tế bào vẩy dương vật và 11 trường hợp ung thư biểu mô dạng hạt cơm, ung thư biểu mô dạng hạt cơm có khả năng di căn hạch thấp hơn (18% so với 57%) và tỷ lệ sống sót sau năm năm cao hơn (100% so với 60%). Ung thư biểu mô dạng hạt cơm còn có tần suất kết hợp với HPV ADN cao hơn (46% so với 27%).
Viêm quy đầu giả epithelioma dày sừng (PKMB)
PKMB là một tổn thương ít gặp, biểu hiện lâm sàng là một mảng đơn độc màu trắng dày sừng phân thành lớp ở quy đầu; nó thường xuất hiện ở người cao tuổi và được cắt bao quy đầu muộn. Nguyên nhân chính xác gây ra căn bệnh này vẫn chưa được xác định rõ, sự chuyển dạng ác tính PKMB thành ung thư biểu mô tế bào vẩy đã được công bố; dấu hiệu chuyển dạng là sự phát triển một tổn thương lồi dạng nhân trong mảng trắng tồn tại từ trước.
PKMB là một tổn thương ít gặp, biểu hiện lâm sàng là một mảng đơn độc màu trắng dày sừng phân thành lớp ở quy đầu; nó thường xuất hiện ở người cao tuổi và được cắt bao quy đầu muộn. Nguyên nhân chính xác gây ra căn bệnh này vẫn chưa được xác định rõ, sự chuyển dạng ác tính PKMB thành ung thư biểu mô tế bào vẩy đã được công bố; dấu hiệu chuyển dạng là sự phát triển một tổn thương lồi dạng nhân trong mảng trắng tồn tại từ trước.
Bệnh Bowen
Bệnh Bowen (BD) là một ung thư biểu mô nông tại chỗ (CIS) trong biểu mô sinh nang, ví dụ trên thân dương vật. Nó thường là đám đỏ nhạt đơn độc với các vùng có vỏ cứng và rỉ nước. Trong một nghiên cứu, HPV-16 có ở 4 trong 5 tiêu bản sinh thiết BD sinh dục. Nếu không điều trị, ung thư biểu mô tế bào vẩy sẽ phát triển ở khoảng 5% các trường hợp.
Bệnh Bowen (BD) là một ung thư biểu mô nông tại chỗ (CIS) trong biểu mô sinh nang, ví dụ trên thân dương vật. Nó thường là đám đỏ nhạt đơn độc với các vùng có vỏ cứng và rỉ nước. Trong một nghiên cứu, HPV-16 có ở 4 trong 5 tiêu bản sinh thiết BD sinh dục. Nếu không điều trị, ung thư biểu mô tế bào vẩy sẽ phát triển ở khoảng 5% các trường hợp.
Hồng sản Querat
Hồng sản Querat (EQ) là một loại ung thư biểu mô nông tại chỗ phát triển trong lớp biểu mô niêm mạc-da của dương vật tức là quy đầu và bao quy đầu. Nó thường có màu đỏ nhung, ranh giới rõ. Các tổn thương này thường đơn độc và đôi khi bị xước hoặc bị loét nhưng ít khi bị đau. EQ thường gặp ở người cao tuổi và không cắt bao quy đầu. Nó có xu hướng thoái hóa thành ung thư biểu mô tế bào vẩy xâm lấn cao hơn so với bệnh Bowen; tần suất chuyển dạng ác tính dao động trong khoảng 10 - 33%. Sự phát triển loét và/hoặc u nhú có liên quan tới sự tiến triển của bệnh. Người ta đã mô tả mối liên hệ của bệnh với HPV 8 và 16.
Hồng sản Querat (EQ) là một loại ung thư biểu mô nông tại chỗ phát triển trong lớp biểu mô niêm mạc-da của dương vật tức là quy đầu và bao quy đầu. Nó thường có màu đỏ nhung, ranh giới rõ. Các tổn thương này thường đơn độc và đôi khi bị xước hoặc bị loét nhưng ít khi bị đau. EQ thường gặp ở người cao tuổi và không cắt bao quy đầu. Nó có xu hướng thoái hóa thành ung thư biểu mô tế bào vẩy xâm lấn cao hơn so với bệnh Bowen; tần suất chuyển dạng ác tính dao động trong khoảng 10 - 33%. Sự phát triển loét và/hoặc u nhú có liên quan tới sự tiến triển của bệnh. Người ta đã mô tả mối liên hệ của bệnh với HPV 8 và 16.
Sẩn dạng Bowen
Sẩn dạng Bowen (BP) là dạng ung thư biểu mô nông tại chỗ thứ ba, được đặc trưng bởi nhiều mụn sẩn hơi lồi có màu từ đỏ tới tím. Các mụn này thường tạo thành trên thân dương vật mặc dù quy đầu và bao quy đầu cũng có thể bị tổn thương. Người ta cho là HPV có liên quan đến sinh bệnh học của sẩn dạng Bowen. Diễn biến lâm sàng của sẩn dạng Bowen thường là lành tính, nhưng cũng đã có một số ít trường hợp tiến triển thành ung thư biểu mô tế bào vẩy xâm lấn. Tuổi cao và tình trạng ức chế miễn dịch có thể làm tăng nguy cơ tiến triển.
Sẩn dạng Bowen (BP) là dạng ung thư biểu mô nông tại chỗ thứ ba, được đặc trưng bởi nhiều mụn sẩn hơi lồi có màu từ đỏ tới tím. Các mụn này thường tạo thành trên thân dương vật mặc dù quy đầu và bao quy đầu cũng có thể bị tổn thương. Người ta cho là HPV có liên quan đến sinh bệnh học của sẩn dạng Bowen. Diễn biến lâm sàng của sẩn dạng Bowen thường là lành tính, nhưng cũng đã có một số ít trường hợp tiến triển thành ung thư biểu mô tế bào vẩy xâm lấn. Tuổi cao và tình trạng ức chế miễn dịch có thể làm tăng nguy cơ tiến triển.
Yếu tô nguy cơ gây nên ung thư dương vật
Hiện đã có các bằng chứng thuyết phục cho thấy các yếu tố như độ tuổi, hút thuốc lá, cắt bao quy đầu lúc mới sinh, hẹp bao quy đầu và nhiễm virút papilloma người (HPV), có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển ung thư biểu mô tế bào vẩy dương vật. Các yếu tố nguy cơ có thể khác bao gồm tiền sử có sử dụng liệu pháp quang hóa tia cực tím (PUVA), có nhiều bạn tình, tiền sử rách hoặc xước dương vật, các yếu tố di truyền và chủng tộc.
Độ tuổi
Tuổi cao là một yếu tố nguy cơ của ung thư dương vật. Bệnh ung thư dương vật hiếm gặp trước tuổi dậy thì, tần suất mắc bệnh bắt đầu tăng ở tuổi trưởng thành và sau đó tiếp tục tăng. Trong một nghiên cứu trên 4000 trường hợp, độ tuổi trung bình được chẩn đoán bệnh là 60 tuổi.
Tuổi cao là một yếu tố nguy cơ của ung thư dương vật. Bệnh ung thư dương vật hiếm gặp trước tuổi dậy thì, tần suất mắc bệnh bắt đầu tăng ở tuổi trưởng thành và sau đó tiếp tục tăng. Trong một nghiên cứu trên 4000 trường hợp, độ tuổi trung bình được chẩn đoán bệnh là 60 tuổi.
Hút thuốc lá
Những người hút thuốc lá có nguy cơ ung thư dương vật cao hơn. Trong một nghiên cứu có đối chứng tiến hành trong cộng đồng, người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh cao gấp ba lần so với người không hút thuốc. Lượng thuốc lá sử dụng liên quan tới ung thư dương vật là một yếu tố độc lập, không phụ thuộc vào các yếu tố khác như tiền sử tình dục.
Những người hút thuốc lá có nguy cơ ung thư dương vật cao hơn. Trong một nghiên cứu có đối chứng tiến hành trong cộng đồng, người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh cao gấp ba lần so với người không hút thuốc. Lượng thuốc lá sử dụng liên quan tới ung thư dương vật là một yếu tố độc lập, không phụ thuộc vào các yếu tố khác như tiền sử tình dục.
Người ta cho rằng khói thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư dương vật qua việc ức chế chức năng các tế bào Langerhans trình diện kháng nguyên, hậu quả là gây ảnh hưởng xấu lên hệ thống cảnh báo miễn dịch. Một số khác lại cho rằng tình trạng nhiễm HPV, kích thích dương vật mạn tính hoặc hẹp bao quy đầu có thể có tác dụng hiệp đồng với hút thuốc lá để thúc đẩy quá trình chuyển dạng ác tính. Mặc dù có bằng chứng cho thấy các chất gây ung thư trong thuốc lá tập trung ở bựa sinh dục, việc điều trị hẹp bao quy đầu đơn độc không loại bỏ được nguy cơ do hút thuốc gây ra.
Không cắt bao quy đầu
Tác dụng có lợi của việc cắt bao quy đầu lúc mới sinh đối với sự phát triển ung thư dương vật đã được đánh giá cao từ lâu. Dưới đây là các số liệu chứng minh: Ung thư dương vật hầu như không tồn tại ở cộng đồng người Do thái và người theo đạo Hồi, là những người có tục lệ cắt bao quy đầu cho nam giới khi mới sinh.
Tác dụng có lợi của việc cắt bao quy đầu lúc mới sinh đối với sự phát triển ung thư dương vật đã được đánh giá cao từ lâu. Dưới đây là các số liệu chứng minh: Ung thư dương vật hầu như không tồn tại ở cộng đồng người Do thái và người theo đạo Hồi, là những người có tục lệ cắt bao quy đầu cho nam giới khi mới sinh.
Trong một nghiên cứu so sánh trực tiếp tiến hành ở Uganda, các bộ lạc có tục lệ cắt bao quy đầu có tỷ lệ ung thư dương vật là 0,5/100.000 nam giới, trong khi đó tỷ lệ này ở các bộ lạc không có tục lệ cắt bao quy đầu cao hơn gần sáu lần, tới 2,9/100.000 nam giới.
Với những người không cắt bao quy đầu, tỷ lệ phát triển ung thư dương vật trong cả cuộc đời có thể lên tới 1/600, trong khi đó tỷ lệ trong cộng đồng chung là 0,2/100.000 nam giới. Trong một báo cáo tổng quan trên 50.000 trường hợp bị ung thư biểu mô tế bào vẩy dương vật, chỉ có 11 người được cắt bao quy đầu lúc mới sinh, mặc dù một báo cáo tổng quan khác đưa ra con số đối lập, trong đó 20% bệnh nhân ung thư dương vật đã được cắt bao quy đầu lúc mới sinh.
Phần lớn tác dụng có lợi của cắt bao quy đầu mất đi nếu không được tiến hành khi còn là trẻ nhỏ. Trong một nghiên cứu có đối chứng bao gồm 110 bệnh nhân ung thư dương vật và 355 người đối chứng, so với những người đã được cắt bao quy đầu lúc mới sinh, nguy cơ ung thư dương vật tương đối ở đối tượng không cắt bao quy đầu và đối tượng cắt bao quy đầu sau giai đoạn sơ sinh tương ứng là 3,0 và 3,2. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết là tác dụng bảo vệ của việc cắt bao quy đầu xuất phát từ việc không tồn đọng bựa sinh dục và không bị hẹp bao quy đầu về sau khi dương vật bị kích thích mạn tính, đặc biệt là khi vệ sinh cá nhân không tốt. Hiện vẫn chưa xác định được mối liên hệ giữa việc cắt bao quy đầu và nguy cơ lây nhiễm hoặc lan truyền HPV.
Bựa sinh dục
Bựa sinh dục bắt đầu hình thành vào những ngày đầu tiên của cuộc sống do bong tế bào biểu mô trong bao quy đầu; dịch bài tiết từ các tuyến bao quy đầu cũng đóng góp một phần. Bựa sinh dục có khả năng gây ung thư ở các mô hình nghiên cứu trên súc vật, mặc dù thành phần đặc hiệu gây chuyển dạng ác tính ở nam giới chưa được xác định. Vi khuẩn Mycobaterium có trong bao quy đầu ở khoảng một nửa đối tượng không cắt bao quy đầu, có thể chuyển đổi sterol trong bựa sinh dục thành hợp chất gây ung thư. Ở nam giới không cắt bao quy đầu, sự tồn đọng bựa sinh dục, đặc biệt là khi bị hẹp bao quy đầu, có thể thúc đẩy quá trình chuyển dạng ác tính do sự tiếp xúc trực tiếp với biểu mô bị kích thích mạn tính.
Bựa sinh dục
Bựa sinh dục bắt đầu hình thành vào những ngày đầu tiên của cuộc sống do bong tế bào biểu mô trong bao quy đầu; dịch bài tiết từ các tuyến bao quy đầu cũng đóng góp một phần. Bựa sinh dục có khả năng gây ung thư ở các mô hình nghiên cứu trên súc vật, mặc dù thành phần đặc hiệu gây chuyển dạng ác tính ở nam giới chưa được xác định. Vi khuẩn Mycobaterium có trong bao quy đầu ở khoảng một nửa đối tượng không cắt bao quy đầu, có thể chuyển đổi sterol trong bựa sinh dục thành hợp chất gây ung thư. Ở nam giới không cắt bao quy đầu, sự tồn đọng bựa sinh dục, đặc biệt là khi bị hẹp bao quy đầu, có thể thúc đẩy quá trình chuyển dạng ác tính do sự tiếp xúc trực tiếp với biểu mô bị kích thích mạn tính.
Hẹp bao quy đầu
Hẹp bao quy đầu khiến cho bao quy đầu không thể co lại được, là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất. Theo một báo cáo tổng quan các nghiên cứu có đối chứng đã công bố, hẹp bao quy đầu làm tăng nguy cơ phát triển ung thư dương vật nói chung lên hơn 10 lần. Hẹp bao quy đầu là một bất thường hay đi kèm với ung thư dương vật nhất và nó liên quan tới tình trạng không biệt hóa biểu mô. Trong một thông báo, xét nghiệm mô học bao quy đầu ở nam giới cho thấy tỷ lệ có tình trạng không biệt hóa biểu mô ở nam giới có hẹp bao quy đầu là 35%, còn tỷ lệ đó ở nam giới không bị hẹp bao quy đầu là 0%. Tình trạng tồn đọng bựa sinh dục mạn tính, xảy ra khi vệ sinh cá nhân không tốt, có thể thúc đẩy quá trình hình thành chứng hẹp bao quy đầu.
Hẹp bao quy đầu khiến cho bao quy đầu không thể co lại được, là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất. Theo một báo cáo tổng quan các nghiên cứu có đối chứng đã công bố, hẹp bao quy đầu làm tăng nguy cơ phát triển ung thư dương vật nói chung lên hơn 10 lần. Hẹp bao quy đầu là một bất thường hay đi kèm với ung thư dương vật nhất và nó liên quan tới tình trạng không biệt hóa biểu mô. Trong một thông báo, xét nghiệm mô học bao quy đầu ở nam giới cho thấy tỷ lệ có tình trạng không biệt hóa biểu mô ở nam giới có hẹp bao quy đầu là 35%, còn tỷ lệ đó ở nam giới không bị hẹp bao quy đầu là 0%. Tình trạng tồn đọng bựa sinh dục mạn tính, xảy ra khi vệ sinh cá nhân không tốt, có thể thúc đẩy quá trình hình thành chứng hẹp bao quy đầu.
Nhiễm virút papilloma người
Giống như các loại ung thư biểu mô tế bào vẩy vùng hậu môn-sinh dục khác, tình trạng nhiễm virút papilloma người (HPV) liên quan chặt chẽ với ung thư dương vật và có thể là nguyên nhân gây ra loại ung thư này.
Giống như các loại ung thư biểu mô tế bào vẩy vùng hậu môn-sinh dục khác, tình trạng nhiễm virút papilloma người (HPV) liên quan chặt chẽ với ung thư dương vật và có thể là nguyên nhân gây ra loại ung thư này.
Tần suất nhiễm HPV ở bệnh nhân ung thư dương vật dao động từ 27% tới 71%; hầu hết các trường hợp có liên quan tới dưới tuýp 16 hoặc 18. Trái lại, tần suất nhiễm HPV ước tính trong bao quy đầu của đối tượng khỏe mạnh không bị ung thư dương vật và ở trẻ mới sinh tương ứng là o - 6% và 4%. Tình trạng nhiễm HPV dường như không ảnh hưởng tới tiên lượng của bệnh nhân ung thư dương vật.
Tìm hiểu về ung thư dương vật
Ung thư dương vật là ung thư ác tính thường thấy ở hệ thống sinh dục nam ở độ tuổi trên 40. Ung thư dương vật chủ yếu phát sinh ở nam giới trung, cao tuổi, độ tuổi thường là 60, tuổi tác càng cao thì càng dễ mắc bệnh, tỉ lệ mắc cao nhất là 70 tuổi. Tuy nhiên ung thư dương vật cũng có thể phát bệnh ở người trẻ tuổi.
95% các trường hợp ung thư dương vật là ung thư biểu mô tế bào vẩy (SCC) nguyên phát. Các tuýp mô học khác bao gồm sác-côm mô mềm nguyên phát, u niệu đạo, ung thư biểu mô tế bào vẩy, u lymphô, ung thư biểu mô tế bào đáy và ung thư dương vật di căn thứ phát là các dạng ung thư dương vật hiếm gặp.
Nguyên nhân:
- Do hẹp bao quy đầu: vì người bệnh hẹp bao quy đầu thường gặp khó khăn trong việc vệ sinh quy đầu khiến các chất dịch và chất cặn màu trắng tích trữ trong đó dễ khiến mắc bệnh ung thư dương vật.
- Do hẹp bao quy đầu: vì người bệnh hẹp bao quy đầu thường gặp khó khăn trong việc vệ sinh quy đầu khiến các chất dịch và chất cặn màu trắng tích trữ trong đó dễ khiến mắc bệnh ung thư dương vật.
- Bựa sinh dục, tình trạng hình thành lớp chất nhầy khá dày, xảy ra do dương vật không được vệ sinh sạch sẽ cũng được xem là một trong những nguyên nhân gây ung thư dương vật.
- Do mắc các bệnh như viêm dương vật (đặc biệt là vùng quy đầu và rãnh quy đầu), có các khối u lành tính ở dương vật (như u mạch máu), các bệnh lây truyền qua đường tình dục (như bệnh sùi mào gà, giang mai …) cũng là những yếu tố có thể dẫn đến ung thư dương vật.
Triệu chứng:
+ Giai đoạn 1: Khi mới bắt đầu mắc bệnh biểu hiện của bệnh ung thư dương vật sẽ là:
- Thay đổi màu da ở bộ phận dương vật.
- Có cảm giác đau nhói hay âm ỉ ở dương vật, nhất là sau khi dương vật cương cứng hoặc bị va chạm.
- Bao qui đầu không thể di chuyển lên được,có u cục hoặc cảm giác có nốt, toàn bộ cảm giác đau; sẩn, nổi mụn cóc, loét giống như hình hoa lơ, sau đó sẽ là loét rộng hơn, vùng rìa phát triển không đồng nhất, sẽ có những cơn đau nhói, và cảm giác đau nóng rát, có tiết dịch mùi hôi.
- Rỉ máu ở đầu dương vật, nhất là sau khi giao hợp.
- Thay đổi màu da ở bộ phận dương vật.
- Có cảm giác đau nhói hay âm ỉ ở dương vật, nhất là sau khi dương vật cương cứng hoặc bị va chạm.
- Bao qui đầu không thể di chuyển lên được,có u cục hoặc cảm giác có nốt, toàn bộ cảm giác đau; sẩn, nổi mụn cóc, loét giống như hình hoa lơ, sau đó sẽ là loét rộng hơn, vùng rìa phát triển không đồng nhất, sẽ có những cơn đau nhói, và cảm giác đau nóng rát, có tiết dịch mùi hôi.
- Rỉ máu ở đầu dương vật, nhất là sau khi giao hợp.
+ Giai đoạn 2: bệnh ung thư sẽ tấn công vào các tuyến và tế bào bên trong, với biểu hiện:
- Các nốt to lên, loét cũng to lên, sâu thêm, xuất hiện bao qui đầu mỏng căng, sáng hơn.
- Có u hoặc các nốt loét xung quanh bao qui đầu. Dần dần các u sẽ làm vỡ các phần da hoặc hoại tử trên một nền cứng và xuất hiện nhìn giống như các bông hoa lơ, khi nắn có nước nhờn, đục, có tiết dịch mủ mùi hôi.
- Các nốt to lên, loét cũng to lên, sâu thêm, xuất hiện bao qui đầu mỏng căng, sáng hơn.
- Có u hoặc các nốt loét xung quanh bao qui đầu. Dần dần các u sẽ làm vỡ các phần da hoặc hoại tử trên một nền cứng và xuất hiện nhìn giống như các bông hoa lơ, khi nắn có nước nhờn, đục, có tiết dịch mủ mùi hôi.
+ Giai đoạn 3: bắt đầu bằng việc tế bào ung thư lan sang các hạch bạch huyết và hạch háng:
- Hạch bẹn to cứng, không đau, thường thấy ở cả 2 bên.
Giai đoạn cuối: bệnh ung thư sẽ lan rộng ra khắp dương vật và những khu vực khác xa hơn, với biểu biện:
- Người gầy, nôn ra máu, không muốn ăn.
- Hạch bẹn to cứng, không đau, thường thấy ở cả 2 bên.
Giai đoạn cuối: bệnh ung thư sẽ lan rộng ra khắp dương vật và những khu vực khác xa hơn, với biểu biện:
- Người gầy, nôn ra máu, không muốn ăn.
Ung thư dương vật có nguy hiểm gì?
Vài năm gần đây, ung thư dương vật trở thành một trong những bệnh nguy hiểm tới sức khỏe và tính mạng của nam giới,mà nam giới không nên coi nhẹ.nguyên nhân gây bệnh đến nay vẫn không rõ, theo quan sát lâm sàng và thống kê cho thấy, khả năng ung thư dương vật phát bệnh và hẹp bao quy đầu hay thừa bao quy đầu có liên quan mật thiết với nhau.
Vài năm gần đây, ung thư dương vật trở thành một trong những bệnh nguy hiểm tới sức khỏe và tính mạng của nam giới,mà nam giới không nên coi nhẹ.nguyên nhân gây bệnh đến nay vẫn không rõ, theo quan sát lâm sàng và thống kê cho thấy, khả năng ung thư dương vật phát bệnh và hẹp bao quy đầu hay thừa bao quy đầu có liên quan mật thiết với nhau.
Có nhiều bệnh về dương vật dễ trở thành ung thư trước đó như: u nhú dương vật, sùi mào gà, chứng bạch sản dương vật, tăng hồng sản bộ phận sinh dục. Đầu dương vật của bệnh nhân bỗng nhiên có u không lí do, không đau, không ngứa, u không ngừng phát triển, giống như hoa trà,xuất hiện ở bề mặt dương vật, khiến cho dương vật bị biến dạng. Hơn nữa bề mặt khối u còn bị loét, có mùi và dịch. Tùy theo bệnh tình phát triển, xuất hiện thêm hạch gần khôi su dương vật, sau đó sẽ di căn tới gan, phổi, thậm chí đe dọa tính mạng bệnh nhân.
Phương pháp điều trị ung thư dương vật
Tại bệnh viện ung bướu Hưng Việt tùy vào tình trạng bệnh, sức khỏe để đưa ra phác đồ điều trị tổng hợp cho cá thể hóa, thông qua thực tiễn, điều trị tổng hợp sẽ phá vỡ được những hạn chế của phương pháp đơn lẻ, nâng cao hiệu quả điều trị.
Tại bệnh viện ung bướu Hưng Việt tùy vào tình trạng bệnh, sức khỏe để đưa ra phác đồ điều trị tổng hợp cho cá thể hóa, thông qua thực tiễn, điều trị tổng hợp sẽ phá vỡ được những hạn chế của phương pháp đơn lẻ, nâng cao hiệu quả điều trị.
Chẩn đoán ung thư cổ tử cung bằng phương pháp xét nghiệm Liqui-Prep Pap Test
Nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán sớm bệnh ung thư cổ tử cung, có xét nghiệm phát hiện sớm ung thư cổ tử cung Liqui-Prep Pap Test vào phục vụ chẩn đoán ung thư cổ tử cung.
Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư phụ khoa thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 35 trở lên. Trên thế giới, cứ 2 phút lại có một phụ nữ chết do ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, ước tính cứ 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh UTCTC và 11 trường hợp tử vong. Một số lý do dẫn đến tỉ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung cao bao gồm số phụ nữ tham gia khám phụ khoa định kỳ để được tầm soát ung thư còn thấp, các chương trình tầm soát cũng chưa được bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ còn hạn chế do thiếu những chương trình tuyên truyền giáo dục.
Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây ung thư cổ tử cung. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển ung thư cổ tử cung như phụ nữ có quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người; dùng thuốc tránh thai kéo dài; sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá; tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)…Với những tiến bộ của y khoa hiện đại, căn bệnh này có thể được chữa khỏi nếu bệnh được phát hiện sớm. Tuy nhiên ở giai đoạn muộn ung thư cổ tử cung lại rất khó chữa. Kể từ khi xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung hay còn gọi là xét nghiệm Pap) ra đời và ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng thì tỷ lệ ung thư cổ tử cung đã giảm một cách đáng kể.
Ung thư cổ tử cung không xảy ra đột ngột mà âm thầm trải qua các giai đoạn từ lúc nhiễm HPV, gây nên những biến đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư, kéo dài trung bình từ 10 – 15 năm. Đặc biệt giai đoạn tiền ung thư hầu như không có triệu chứng gì, do đó chị em không thể nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi khám phụ khoa. Khi đã ở những giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể có những biểu hiện như ra huyết trắng có mùi hôi, có lẫn máu, chảy máu âm đạo sau giao hợp hoặc sau khi làm việc nặng dù không đang ở chu kỳ kinh nguyệt. Nặng hơn có thể chảy dịch có lẫn máu ở âm đạo, kèm theo đau bụng, lưng, vùng chậu và chân. Nếu chị em thấy mình có bất kỳ dấu hiệu nào kể trên thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Không nên coi thường và bỏ qua những triệu chứng này. Khi các triệu chứng bị bỏ qua thì ung thư sẽ có thời gian để tiến triển đến những giai đoạn muộn hơn và việc điều trị sẽ càng khó khăn.
Tìm hiểu thêm về phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung tại : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung/chan-doan-ung-thu-co-tu-cung.aspx
Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư phụ khoa thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 35 trở lên. Trên thế giới, cứ 2 phút lại có một phụ nữ chết do ung thư cổ tử cung. Tại Việt Nam, ước tính cứ 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh UTCTC và 11 trường hợp tử vong. Một số lý do dẫn đến tỉ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung cao bao gồm số phụ nữ tham gia khám phụ khoa định kỳ để được tầm soát ung thư còn thấp, các chương trình tầm soát cũng chưa được bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ còn hạn chế do thiếu những chương trình tuyên truyền giáo dục.
Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây ung thư cổ tử cung. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển ung thư cổ tử cung như phụ nữ có quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người; dùng thuốc tránh thai kéo dài; sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá; tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)…Với những tiến bộ của y khoa hiện đại, căn bệnh này có thể được chữa khỏi nếu bệnh được phát hiện sớm. Tuy nhiên ở giai đoạn muộn ung thư cổ tử cung lại rất khó chữa. Kể từ khi xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung hay còn gọi là xét nghiệm Pap) ra đời và ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng thì tỷ lệ ung thư cổ tử cung đã giảm một cách đáng kể.
Ung thư cổ tử cung không xảy ra đột ngột mà âm thầm trải qua các giai đoạn từ lúc nhiễm HPV, gây nên những biến đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư, kéo dài trung bình từ 10 – 15 năm. Đặc biệt giai đoạn tiền ung thư hầu như không có triệu chứng gì, do đó chị em không thể nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi khám phụ khoa. Khi đã ở những giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể có những biểu hiện như ra huyết trắng có mùi hôi, có lẫn máu, chảy máu âm đạo sau giao hợp hoặc sau khi làm việc nặng dù không đang ở chu kỳ kinh nguyệt. Nặng hơn có thể chảy dịch có lẫn máu ở âm đạo, kèm theo đau bụng, lưng, vùng chậu và chân. Nếu chị em thấy mình có bất kỳ dấu hiệu nào kể trên thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Không nên coi thường và bỏ qua những triệu chứng này. Khi các triệu chứng bị bỏ qua thì ung thư sẽ có thời gian để tiến triển đến những giai đoạn muộn hơn và việc điều trị sẽ càng khó khăn.
Tìm hiểu thêm về phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung tại : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung/chan-doan-ung-thu-co-tu-cung.aspx
Chẩn đoán ung thư cổ tử cung qua các giai đoạn
Nếu gặp các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư cổ tử cung hoặc nếu một thử nghiệm Pap đã cho thấy tế bào ung thư, có thể trải qua các xét nghiệm để chẩn đoán ung thư hơn nữa. Để chẩn đoán ung thư cổ tử cung, bác sĩ có thể:
Kiểm tra cổ tử cung. Trong một kiểm tra gọi là Soi cổ tử cung, bác sĩ sử dụng một kính hiển vi đặc biệt (colposcope) để kiểm tra cổ tử cung tìm các tế bào bất thường. Nếu các khu vực khác thường được xác định, bác sĩ có thể lấy một mẫu nhỏ các tế bào để phân tích (sinh thiết).
Lấy một mẫu tế bào cổ tử cung. Trong thủ tục sinh thiết bác sĩ loại bỏ một mẫu tế bào bất thường từ cổ tử cung bằng cách sử dụng các công cụ đặc biệt. Trong một loại sinh thiết, bác sĩ sử dụng một con dao tròn để loại bỏ một phần nhỏ cổ tử cung. Các loại khác đặc biệt của sinh thiết có thể được sử dụng tùy thuộc vào vị trí và kích thước vùng bất thường của tế bào.
Hủy bỏ một khu vực hình nón của các tế bào cổ tử cung. Sinh thiết nón bởi vì nó liên quan đến việc tham gia một mẫu hình nón cổ tử cung, cho phép bác sĩ có được lớp sâu hơn của các tế bào cổ tử cung để thử nghiệm. Bác sĩ có thể sử dụng dao mổ, laser hoặc điện khí hóa dây thắt để loại bỏ các mô.
Chẩn đoán giai đoạn
Nếu bác sĩ xác định rằng bị ung thư cổ tử cung, sẽ trải qua các xét nghiệm thêm để xác định xem bệnh ung thư đã lây lan và mức độ nào. Giai đoạn ung thư là một yếu tố quan trọng trong quyết định xử lý. Kiểm tra giai đoạn bao gồm:
Hình ảnh. Các xét nghiệm như X -quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) giúp bác sĩ xác định xem bệnh ung thư đã lan tràn ra ngoài cổ tử cung.
Kiểm tra bàng quang và trực tràng. Bác sĩ có thể sử dụng kỹ thuật đặc biệt để xem bên trong bàng quang (soi bàng quang) và trực tràng.
Một giai đoạn ung thư, thường là một chữ số La Mã. Các giai đoạn của ung thư cổ tử cung bao gồm:
Giai đoạn 0. Cũng được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ hoặc ung thư xâm lấn, ung thư này sớm là nhỏ và giới hạn trong bề mặt cổ tử cung.
Giai đoạn I. Ung thư là giới hạn trong cổ tử cung.
Giai đoạn II. Ung thư ở giai đoạn này bao gồm cổ tử cung và tử cung, nhưng không lây lan vào thành khung chậu hoặc phần dưới của âm đạo.
Giai đoạn III. Ung thư ở giai đoạn này đã di chuyển vượt ra ngoài cổ tử cung và tử cung vào thành khung chậu hoặc phần dưới của âm đạo.
Giai đoạn IV. Ở giai đoạn này, ung thư đã lan đến các cơ quan gần đó, chẳng hạn như bàng quang hoặc trực tràng, hoặc nó đã lan rộng đến các vùng khác của cơ thể, như phổi, gan hoặc xương.
Tìm hiểu thêm về ung thư cổ tử cung: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx
Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015
Chẩn đoán ung thư cổ tử cung như nào?
Khi đầu của ung thư cổ tử cung không có triệu chứng lâm sàng nhưng cổ tử cung có thể dễ dàng sờ được, nhìn được nên có thể phát hiện được ung thư cổ tử cung.
Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung có ý nghĩa quan trọng vì giai đoạn ung thư trong biểu mô có thể điều trị khỏi 100% với phương pháp: Laser, khoét chóp, cắt tử cung Giai đoạn I-IIa: khỏi 80-85% trong 5 năm với các phương pháp diều trị nặng nề tàn phá như biện pháp Curi, cắt âm đạo mở rộng, vét hạch, bổ xung bằng liệu pháp Cobalt
Các phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung:
Các phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung:
Cơ năng:
1. Ra máu khi có va chạm: máu đỏ, số lượng ít khi có giao hợp, làm vệ sinh. Ra máu lập lại nhiều hơn.
2. Khí hư hôi, thối do tổ chức ung thư hoại tử, nhiễm khuẩn gây nên.
3. Đau: là triệu chứng muộn khi có chèn ép rễ thần kinh
4.Triệu chứng tiết niệu: nhiễm khuẩn đường niệu, đái rắt, buốt, đái khó khi ung thư cổ tử cung xâm lấn tới bàng quang
5.Thiếu máu: do chảy máu
Thực thể:
Khám: có thể thấy các dạng sùi loét dễ chảy máu, cổ tử cung to, cứng
Cận lâm sàng:
- Phiến đồ tế bào âm đạo, cổ tử cung.
- Sinh thiết có hướng dẫn bởi soi cổ tử cung: cho phép nhìn rõ ranh giới khu trú tổn thương để sinh thiết đúng chỗ (giữa biểu mô lát và trụ, các tổn thương lát đá, chấm đáy...)
- Khoét chóp CTC để chẩn đoán
Để tìm hiểu thêm về các phương pháp chẩn đoán cũng như phương pháp điều trị bệnh ung thư cổ tử cung các bạn tham khảo tại: http://benhvienungbuouhungviet.vn/
Các phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung
Việc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung có vai trò rất quan trọng trong việc điều trị bệnh. Thông thường, việc chẩn đoán ung thư cổ tử cung được thực hiện bởi các phương pháp sau:
- Phiến đồ âm đạo PAP Smear (phết tế bào âm đạo) là phương pháp chủ yếu để phát hiện những biến đổi tiền ung thư hoặc ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm.
- Có bất thường khi biểu mô tế bào vảy vùng cổ tử cung hoặc âm đạo không có glycogen, không bắt màu khi nhuộm I-ốt. Khi đó cần nhanh chóng làm sinh thiết.
- Sinh thiết được thực hiện bằng cách lấy các mô ở của tử cung hoặc cổ tử cung, tiến hành kiểm tra cắt lớp hoặc kiểm tra bệnh lí.
- Soi cổ tử cung không trực tiếp phát hiện được ung thư cổ tử cung, nhưng có thể giúp ích cho việc lựa chọn vị trí để tiến hành sinh thiết.
Các triệu chứng thường gặp của ung thư cổ tử cung như:
- Thông thường những người bị ung thư cổ tử cung đều có viêm loét cổ tử cung.
- 80% người bệnh có hiện tượng ra máu âm đạo, thường là sau khi quan hệ tình dục hoặc khi kiểm tra phụ khoa.
- Mãn kinh đã lâu, âm đạo đột nhiên ra máu bất thường.
- Vùng bụng dưới hoặc vùng eo lưng thường đau mỏi, đau mỏi tăng lên trong kì kinh hoặc khi đi vệ sinh.
- Khí hư nhiều, màu sắc bất thường và có mùi khó chịu.
- Thông thường những người bị ung thư cổ tử cung đều có viêm loét cổ tử cung.
- 80% người bệnh có hiện tượng ra máu âm đạo, thường là sau khi quan hệ tình dục hoặc khi kiểm tra phụ khoa.
- Mãn kinh đã lâu, âm đạo đột nhiên ra máu bất thường.
- Vùng bụng dưới hoặc vùng eo lưng thường đau mỏi, đau mỏi tăng lên trong kì kinh hoặc khi đi vệ sinh.
- Khí hư nhiều, màu sắc bất thường và có mùi khó chịu.
Tìm hiểu thêm về việc chẩn đoán ung thư cổ tử cung tại: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung/chan-doan-ung-thu-co-tu-cung.aspx
6 biểu hiện sớm của ung thư cổ tử cung
Điều đáng sợ nhất là bệnh ung thư cổ tử cung có thể không có biểu hiện nào rõ ràng ở giai đoạn đầu. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, ước tính có khoảng 12.340 trường hợp ung thư cổ tử cung ở Mỹ mỗi năm. Đáng buồn thay, khoảng 4.000 phụ nữ chết bởi căn bệnh này vì không kịp thời phát hiện những triệu chứng bệnh ở giai đoạn đầu và điều trị kịp thời.
Xét nghiệm pap smear (xét nghiệm tế bào cổ tử cung) là cách tốt nhất để xác định bạn có nguy cơ mắc bệnh ung thư này hay không. Ngoài ra, nếu thấy các biểu hiện như dưới đây thì chị em cũng cần hết sức chú ý vì đó có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh ung thư cổ tử cung.
1. Đau vùng chậu
Nhiều phụ nữ phải chịu chứng chuột rút trong chu kì kinh nguyệt hàng tháng của mình. Tuy nhiên, chị em cần hết sức chú ý nếu thấy đau nhức ở quanh vùng chậu hoặc bị chuột rút ở những ngày không có kinh nguyệt. Bởi vì đó có thể là những biểu hiện của ung thư cổ tử cung.
2. Chảy máu bất thường
Một trong những dấu hiệu cảnh báo phổ biến nhất của ung thư cổ tử cung là chảy máu âm đạo bất thường (chảy máu âm đạo ở những ngày không phải chu kì kinh nguyệt). Tuy nhiên, mức độ chảy máu có thể khác nhau với mỗi người phụ nữ, có người chảy máu nhiều nhưng cũng có người chảy máu ít. Điểm chung là tất cả đều không rõ nguyên nhân tại sao chảy máu. Nếu bạn cũng bị chảy máu âm đạo bất thường như vậy thì hãy cảnh giác và đi khám để biết có phải do ung thư cổ tử cung gây ra hay không.
3. Dịch âm đạo bất thường
Dịch âm đạo nếu có màu trong hoặc hơi trắng, không có mùi hôi và thường xuất hiện trong những ngày rụng trứng giữa chu kì kinh nguyệt. Trong trường hợp dịch âm đạo tăng bất thường, màu sắc lạ (có màu vàng, xanh như mủ hoặc lẫn máu), có mùi khó chịu... thì có thể đó là dấu hiệu của bệnh ung thư cổ tử cung.
Tuy nhiên, những bệnh ung thư khác ở "vùng kín" như ung thư buồng trứng, viêm vòi trứng... cũng có thể gây ra những dấu hiệu bất thường ở dịch âm đạo. Vì vậy, chị em phải đi khám phụ khoa mới có thể xác định được nguyên nhân chính xác nhất.
4. Chu kì kinh nguyệt bất thường
Khi cổ tử cung bị kích thích do ung thư cổ tử cung, nó sẽ tác động đến quá trình phát triển và rụng trứng. Sự cân bằng hormone cũng bị thay đổi. Kết quả là chu kì kinh nguyệt của bạn không được bình thường như trước đây. Bạn có thể bị trễ kinh, kinh nguyệt kéo dài hoặc máu kinh nguyệt có màu đen sẫm... Vì vậy, chị em không được bỏ qua dấu hiệu khác thường này.
5. Thiếu máu
Thiếu máu có thể xảy ra với bệnh ung thư cổ tử cung vì số lượng tế bào hồng cầu khỏe mạnh bị giảm và được thay thế bằng các bạch cầu để đẩy lùi bệnh. Thiếu máu thường khiến cho người bệnh cảm thấy mệt mỏi và cạn kiệt năng lượng, giảm cân không rõ nguyên nhân và mất cảm giác ngon miệng.
6. Đau lưng
Vùng chậu hoặc đau lưng, đặc biệt là ở khu vực lưng dưới cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo ung thư cổ tử cung. Bạn càng phải cảnh giác hơn nếu thấy cơn đau lan xuống chân và thậm chí gây ra sưng (phù) ở chân.
Tìm hiểu thêm vê ung thư cổ tử cung tại bệnh viện ung bướu Hưng Việt.
Xét nghiệm pap smear (xét nghiệm tế bào cổ tử cung) là cách tốt nhất để xác định bạn có nguy cơ mắc bệnh ung thư này hay không. Ngoài ra, nếu thấy các biểu hiện như dưới đây thì chị em cũng cần hết sức chú ý vì đó có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh ung thư cổ tử cung.
1. Đau vùng chậu
Nhiều phụ nữ phải chịu chứng chuột rút trong chu kì kinh nguyệt hàng tháng của mình. Tuy nhiên, chị em cần hết sức chú ý nếu thấy đau nhức ở quanh vùng chậu hoặc bị chuột rút ở những ngày không có kinh nguyệt. Bởi vì đó có thể là những biểu hiện của ung thư cổ tử cung.
Một trong những dấu hiệu cảnh báo phổ biến nhất của ung thư cổ tử cung là chảy máu âm đạo bất thường (chảy máu âm đạo ở những ngày không phải chu kì kinh nguyệt). Tuy nhiên, mức độ chảy máu có thể khác nhau với mỗi người phụ nữ, có người chảy máu nhiều nhưng cũng có người chảy máu ít. Điểm chung là tất cả đều không rõ nguyên nhân tại sao chảy máu. Nếu bạn cũng bị chảy máu âm đạo bất thường như vậy thì hãy cảnh giác và đi khám để biết có phải do ung thư cổ tử cung gây ra hay không.
3. Dịch âm đạo bất thường
Dịch âm đạo nếu có màu trong hoặc hơi trắng, không có mùi hôi và thường xuất hiện trong những ngày rụng trứng giữa chu kì kinh nguyệt. Trong trường hợp dịch âm đạo tăng bất thường, màu sắc lạ (có màu vàng, xanh như mủ hoặc lẫn máu), có mùi khó chịu... thì có thể đó là dấu hiệu của bệnh ung thư cổ tử cung.
Tuy nhiên, những bệnh ung thư khác ở "vùng kín" như ung thư buồng trứng, viêm vòi trứng... cũng có thể gây ra những dấu hiệu bất thường ở dịch âm đạo. Vì vậy, chị em phải đi khám phụ khoa mới có thể xác định được nguyên nhân chính xác nhất.
4. Chu kì kinh nguyệt bất thường
Khi cổ tử cung bị kích thích do ung thư cổ tử cung, nó sẽ tác động đến quá trình phát triển và rụng trứng. Sự cân bằng hormone cũng bị thay đổi. Kết quả là chu kì kinh nguyệt của bạn không được bình thường như trước đây. Bạn có thể bị trễ kinh, kinh nguyệt kéo dài hoặc máu kinh nguyệt có màu đen sẫm... Vì vậy, chị em không được bỏ qua dấu hiệu khác thường này.
5. Thiếu máu
Thiếu máu có thể xảy ra với bệnh ung thư cổ tử cung vì số lượng tế bào hồng cầu khỏe mạnh bị giảm và được thay thế bằng các bạch cầu để đẩy lùi bệnh. Thiếu máu thường khiến cho người bệnh cảm thấy mệt mỏi và cạn kiệt năng lượng, giảm cân không rõ nguyên nhân và mất cảm giác ngon miệng.
6. Đau lưng
Vùng chậu hoặc đau lưng, đặc biệt là ở khu vực lưng dưới cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo ung thư cổ tử cung. Bạn càng phải cảnh giác hơn nếu thấy cơn đau lan xuống chân và thậm chí gây ra sưng (phù) ở chân.
Tìm hiểu thêm vê ung thư cổ tử cung tại bệnh viện ung bướu Hưng Việt.
Ung thư cổ tử cung có biểu hiện gì?
Các biểu hiện của ung thư cổ tử cung không phải luôn luôn rõ ràng và nó có thể không gây ra bất kỳ triệu chứng gì cho đến khi nó đã đạt đến một giai đoạn tiến triển.
Biểu hiện rõ rệt nhất của ung thư cổ tử cung là chảy máu âm đạo bất thường.
Các biểu hiện khác:
- Đau đớn và khó chịu trong quá trình quan hệ tình dục
- Một mùi khó chịu xả âm đạo
- Táo bón
- Máu trong nước tiểu (đái ra máu)
- Mất kiểm soát bàng quang ( tiểu không tự chủ )
- Đau xương
- Sưng một chân của bạn
- Đau nặng ở phía bạn hoặc quay trở lại do sưng trong thận của bạn liên quan đến một tình trạng gọi là hydronephrosis
- Thay đổi thói quen ruột và bàng quang của bạn
- Mất cảm giác ngon miệng
- Giảm cân
- Mệt mỏi và thiếu năng lượng
- Chảy máu sau khi quan hệ tình dục (chảy máu postcoital)
- Chảy máu ngoài kỳ bình thường của bạn
- Chảy máu mới sau khi mãn kinh
Trong hầu hết các trường hợp, chảy máu âm đạo là triệu chứng đáng chú ý đầu tiên của ung thư cổ tử cung. Nó thường xảy ra sau khi quan hệ tình dục.
Chảy máu bất cứ lúc nào khác, trừ hàng tháng dự kiến của bạn thời gian , cũng được xem là bất thường.
Điều này bao gồm chảy máu sau khi mãn kinh (khi chu kỳ hàng tháng của một người phụ nữ dừng lại).
Nếu bạn có bất kỳ loại chảy máu âm đạo bất thường, đến gặp bác sĩ để được tư vấn.
Các triệu chứng khác của bệnh ung thư cổ tử cung có thể bao gồm:
Nếu ung thư lan ra khỏi cổ tử cung của bạn và vào các mô và cơ quan xung quanh, nó có thể gây ra một loạt các triệu chứng khác, bao gồm:
Chúng tôi đề nghị bạn liên hệ với bác sĩ của bạn nếu bạn có kinh nghiệm:
Xuất huyết âm đạo là rất phổ biến và có thể có một loạt các nguyên nhân, vì vậy nó không nhất thiết có nghĩa là bạn bị ung thư cổ tử cung.
Tuy nhiên, chảy máu âm đạo bất thường là một triệu chứng mà cần phải được điều tra bởi bác sĩ.
Tìm hiểu các biểu hiện của ung thư cổ tử cung tại: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung/trieu-chung-ung-thu-co-tu-cung.aspx
Các biểu hiện phổ biển của ung thư cổ tử cung
Phụ nữ bị ung thư cổ tử cung sớm và tiền ung thư thường không có biểu hiện. Các biểu hiện thường không bắt đầu cho đến khi ung thư đã trở xâm lấn và phát triển thành mô lân cận. Khi điều này xảy ra, các biểu hiện ung thư cổ tử cung phổ biến nhất là:
- Chảy máu âm đạo bất thường, chẳng hạn như chảy máu sau khi giao hợp âm đạo, chảy máu sau khi mãn kinh, chảy máu và đốm giữa chu kỳ, và việc có (kinh nguyệt) thời kỳ đó là dài hơn hoặc nặng hơn bình thường. Chảy máu sau khi thụt rửa hoặc sau khi khám phụ khoa cũng có thể xảy ra.
- Một xả bất thường từ âm đạo - xả có thể chứa một số máu và có thể xảy ra giữa nguyệt hoặc sau khi mãn kinh.
- Đau khi giao hợp.
Những dấu hiệu và triệu chứng này cũng có thể được gây ra bởi các điều kiện khác không phải ung thư cổ tử cung.Ví dụ, một bệnh nhiễm trùng có thể gây đau đớn hay chảy máu. Tuy nhiên, nếu bạn có bất cứ dấu hiệu hoặc triệu chứng đáng ngờ khác, bạn sẽ thấy dịch vụ chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp của bạn ngay lập tức. Triệu chứng bỏ qua có thể cho phép các bệnh ung thư tiến triển sang giai đoạn nặng hơn và làm giảm cơ hội của bạn để điều trị hiệu quả.
Thậm chí tốt hơn, không chờ đợi cho các triệu chứng xuất hiện. Làm xét nghiệm Pap thường xuyên và khám phụ khoa.
Tìm hiểu thêm về các biểu hiện của ung thư cổ tử cung tại: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung/trieu-chung-ung-thu-co-tu-cung.aspx
Bị ung thư cổ tử cung ở tuổi 20
Ung thư cổ tử cung là ung thư của cổ tử cung. Đây là loại ung thư phụ nữ thường gặp, đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư vú.
Ung thư cổ tử cung thường xảy ra với bệnh nhân trong độ tuổi 40-70 nhưng cũng có thể thấy ở độ tuổi trẻ hơn, thậm chí ở tuổi 20. Phụ nữ nên làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo (lấy những tế bào từ lớp bề mặt của cổ tử cung rồi phết lên phiến kính và soi dưới kính hiển vi để phát hiện bất thường) không lâu sau khi bắt đầu có quan hệ tình dục và nên làm xét nghiệm này ít nhất 2 năm 1 lần và duy trì trong suốt cả cuộc đời.
Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung chiếm 7,3% tổng số ung thư ở nữ với tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 6,8 người/100.000 dân.
Vị trí cổ tử cung ở sâu, khó giữ vệ sinh, dễ mắc bệnh. Rất may ung thư cổ tử cung là loại ung thư có thể phát hiện ở giai đoạn sớm, khi đó điều trị đem lại tỷ lệ khỏi bệnh cao nhất.
Ung thư cổ tử cung thường diễn biến qua nhiều năm. Hầu hết giai đoạn sớm của bệnh là sự thay đổi tiền ung thư (là sự biến đổi nhẹ của các tế bào đê dần dần có thể phát triển thành ung thư) của lớp niêm mạc cổ tử cung.
Nếu những thay đổi này được phát hiện kịp thời thì rất thuận lợi cho điều trị và phòng ngừa ung thư lan tràn.
Tương ứng với từng giai đoạn phát triển là phương pháp điều trị. Với giai đoạn tiền ung thư có thể điều trị dễ dàng và tỷ lệ được điều trị khỏi là 100%.
Ở giai đoạn ung thư thể xâm lấn, cần đòi hỏi điều trị rộng hơn. Điều trị những giai đoạn sớm bằng phẫu thuật triệt để cắt bỏ tử cung và các tổ chức lân cận, bao gồm cả các hạch trong khung chậu.
Đối với những giai đoạn muộn hơn có thể điều trị tia xạ phối hợp với phẫu thuật hoặc hóa chất.
Tỷ lệ điều trị khỏi ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm là 90%, nhưng tỷ lệ chữa khỏi chung cho mọi giai đoạn ung thư cổ tử cung chỉ đạt tới 60%.
Phẫu thuật cắt tử cung không ảnh hưởng đến người phụ nữ khi quan hệ tình dục.
Tìm hiểu về ung thư cổ tử cung tại : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-co-tu-cung.aspx
Đau bụng có là dấu hiệu của ung thư buồng trứng không?
Hầu hết phụ nữ bị ung thư buồng trứng gặp những triệu chứng không đặc hiệu như đau bụng, khối bất thường vùng bụng, trướng bụng, đau lưng, tiểu gấp, tiêu chảy, táo bón hay mệt mỏi.
Một số phụ nữ khác có những triệu chứng cụ thể hơn như đau vùng khung chậu, chảy máu bất thường ở vùng âm đạo hay giảm cân không rõ nguyên nhân.
Buồng trứng là bộ phận trong hệ sinh sản của nữ, nằm ở khu vực xương chậu. Chúng sản xuất trứng và trứng sẽ đi đến tử cung thông qua vòi trứng. Ung thư buồng trứng là căn bệnh gây ra bởi sự phát triển và phân chia nhanh của các tế bào trong một hay cả hai buồng trứng.
Các bác sĩ, chuyên gia tư vấn ung thư nội khoa của bệnh viện cho biết theo quy luật, những tế bào già và không cần thiết đối với cơ thể sẽ chết. Tuy nhiên, nếu những tế bào này không chết theo quy luật đó sẽ hình thành và phát triển thành khối u. Hầu hết những khối u này lành tính và không lan rộng trên buồng trứng. “Ung thư buồng trứng xảy ra khi xuất hiện khối u ác tính (ung thư) ở buồng trứng, nguy cơ lan rộng đến cả vòi trứng, tử cung và những cơ quan khác trong cơ thể như gan và phổi”, bác sĩ Toh giải thích. Để chẩn đoán ung thư buồng trứng, cần tiến hành một số xét nghiệm như: xét nghiệm máu, kiểm tra vùng chậu, siêu âm và sinh thiết. Thông thường bác sĩ sẽ có chỉ định phẫu thuật với bệnh nhân ung thư buồng trứng.
Hầu hết bệnh nhân sau khi phẫu thuật thường có thêm chỉ định điều trị bổ sung như hóa trị hay hóa trị kết hợp xạ trị. Phẫu thuật giúp xác định chính xác giai đoạn của khối u, đưa ra chẩn đoán chính xác và loại bỏ khối u ung thư nhiều nhất có thể. "Đối với những bệnh nhân không còn sót lại khối u hay khối u nhỏ hơn 1 cm, khả năng chữa khỏi rất cao”, chuyên gia tư vấn ung thư nội khoa của bệnh viện cho biết. Phương pháp hóa trị trong điều trị ung thư đã đạt được những tiến bộ trong những năm gần đây giúp tăng khả năng chữa khỏi bệnh cũng như kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Tìm hiểu thêm về ung thư buồng trứng tại : http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-buong-trung.aspx
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)